Mức tăng trưởng của hầu hết các ngành công nghiệp cao hơn so với cùng kỳ

Mức tăng trưởng của hầu hết các ngành công nghiệp cao hơn so với cùng kỳ

Admin
19, Tháng Giêng, 2017

Báo cáo tình hình sản xuất công nghiệp và thương mại tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2015 của Bộ Công Thương cho biết, tính chung 5 tháng năm 2015, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2014 so với năm 2013 tăng 5,6%).Trong đó, hầu hết các ngành công nghiệp đều có mức tăng trưởng cao hơn so với mức tăng cùng kỳ năm trước

Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,2% so với cùng kỳ

Tháng 5 năm 2015, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,4%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,6%, ngành sản xuất, phân phối điện tăng 8,8% và ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2014.

Tính chung 5 tháng năm 2015, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2014 so với năm 2013 tăng 5,6%).Trong đó, hầu hết các ngành công nghiệp đều có mức tăng trưởng cao hơn so với mức tăng cùng kỳ năm trước, cụ thể: ngành khai khoáng tăng 6,3% (năm 2014 giảm 2,1% so với năm 2013); công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9% (năm 2014 tăng 7,5% so với năm 2013); sản xuất và phân phối điện tăng 10,9% (năm 2014 tăng 10,6% so với năm 2013); cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3% (năm 2014 tăng 6,1% so với năm 2013).

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2015 (%)

Ngành điện: Do thời tiết đã vào mùa khô, nắng nóng nên nhu cầu điện tăng, ngành điện đã triển khai các phương án để đảm bảo cung cấp điện cho phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân. Về nguồn điện, khai thác cao các tổ máy nhiệt điện than và tua-bin khí đảm bảo cấp điện miền Nam và giữ mức nước các hồ thủy điện miền Nam. Khai thác các hồ thuỷ điện theo biểu đồ, đảm bảo yêu cầu cấp nước hạ du của các địa phương, nhất là tại các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ đang trong tình trạng khô hạn nghiêm trọng. Sản lượng điện tháng 5 ước đạt 13,77 tỷ kWh, tăng 8,7% so với tháng 5 năm 2014, tính chung 5 tháng ước đạt trên 61,1 tỷ kWh, tăng 11,3% so với cùng kỳ.

Điện thương phẩm tháng 5 ước đạt 11,83 tỷ kWh, tăng 8,9% so với tháng 5 năm 2014, trong đó: điện cấp cho công nghiệp xây dựng tăng 9,37%; điện cấp cho thương nghiệp và khách sạn nhà hàng tăng 12,79%, điện dùng cho quản lý và tiêu dùng dân cư tăng 9,53%, điện cấp cho nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,79% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2015, điện thương phẩm ước đạt 54,66 tỷ kWh, tăng 10,7% so cùng kỳ.

Ngành dầu khí: Hoạt động tìm kiếm, thăm dò ở trong và ngoài nước được triển khai tích cực, bám sát với kế hoạch đề ra. Về sản lượng dầu thô khai thác tháng 5 ước đạt 1,5 triệu tấn, tăng 3,5% so với tháng 5 năm 2015, tính chung 5 tháng ước đạt 7,6 triệu tấn, tăng 7,4% so với cùng kỳ; sản lượng khai thác khí tháng 5 ước đạt 0,9 tỷ m3, giảm 2,6% so với cùng kỳ, tính chung 5 tháng đầu năm ước đạt 4,5 tỷ m3, tăng 1,6% so với cùng kỳ; sản lượng LPG tháng 5 ước đạt 58,9 nghìn tấn, tăng 47,5% so với cùng kỳ, tính chung 5 tháng ước đạt 301,6 nghìn tấn, giảm 4,2% so với cùng kỳ.

Về chế biến dầu khí, sản lượng xăng dầu tháng 5 ước đạt 530,8 nghìn tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ, tính chung 5 tháng ước đạt gần 2,78 triệu tấn, tăng 11,1% so với cùng kỳ.

Ngành Than và Khoáng sản: Tình hình sản xuất than có tăng trưởng so với cùng kỳ. Sản lượng than sạch tháng 5 ước đạt 3,67 triệu tấn, tăng 0,8% so với tháng cùng kỳ, tính chung 5 tháng đầu năm, sản lượng than sạch ước đạt 17,58 triệu tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ.

Về tiêu thụ than, theo báo cáo của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, tháng 5 ước đạt 3,2 triệu tấn, giảm 2,76% so với cùng kỳ, tính chung 5 tháng ước đạt 14,8 triệu tấn, giảm 5,65% so với cùng kỳ, trong đó: tiêu thụ trong nước tăng 15%; xuất khẩu than giảm, chỉ bằng 17,54% so với cùng kỳ.

Tình hình tiêu thụ than khó khăn. Sau khi có chỉ đạo của Chính phủ về không xuất khẩu than cám trong năm 2015, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản đã chỉ đạo các đơn vị cân đối lại kế hoạch sản xuất - tiêu thụ than trong những tháng cuối năm 2015. Tập đoàn yêu cầu các đơn vị cân đối điện sản xuất đã thực hiện và điều hành giảm một phần sản lượng của các tháng còn lại so với kế hoạch đầu năm, trên cơ sở đảm bảo việc làm, tiết giảm chi phí để cân đối được tài chính, ổn định thu nhập cho người lao động.

Ngành Thép: Tháng 5 năm 2015, lượng sắt thép thô ước đạt 332,5 nghìn tấn, giảm 4,5% so với cùng kỳ; lượng thép cán ước đạt 381,9 nghìn tấn, tăng 21,2% so với cùng kỳ; lượng thép thanh, thép góc ước đạt 364,4 nghìn tấn, tăng 7,9% so với cùng kỳ.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2015, lượng sắt thép thô đạt 1.396,3 nghìn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ; thép cán đạt 1.677 nghìn tấn, tăng 18,8% so với cùng kỳ; thép thanh, thép góc đạt 1.481,7 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ.

Nhập khẩu thép các loại từ các thị trường trong tháng 5 giảm 19,3% về lượng và 34,5% về trị giá so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2015, nhập khẩu thép các loại tăng 14,7% về lượng, giảm 2,5% về trị giá, tuy nhiên nhập khẩu sản phẩm từ thép tăng 51,2% về trị giá so với cùng kỳ.

Tháng 5 năm 2015, nhu cầu thép xây dựng tại thị trường nội địa vẫn giữ mức tăng trưởng khá. Lượng tiêu thụ mặc dù có giảm nhẹ so với tháng trước nhưng tăng khá so với cùng kỳ.

Giá bán thép được duy trì ổn định. Tại khu vực phía Nam, thời điểm cuối tháng 5 một số nhà sản xuất điều chỉnh tăng giá thép khoảng 100.000 đồng/tấn nhằm bù đắp một phần giá nguyên liệu và một số chi phí đầu vào tăng.

Các nhà sản xuất vẫn liên tục có các chính sách điều chỉnh giá bán và chính sách bán hàng, chiết khấu phù hợp nhằm đẩy mạnh lượng tiêu thụ.

Ngành Phân bón và Hoá chất: Tháng 5 năm 2015, ước sản lượng phân đạm urê đạt 200,6 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2014; phân NPK khoảng 251,2 nghìn tấn, giảm 0,2% so cùng kỳ; Trong đó, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam có sản lượng phân ure ước đạt 71,4 nghìn tấn, tăng 24,7% so với cùng kỳ, sản lượng phân NPK ước đạt 178,6 nghìn tấn, giảm 4,4% so với cùng kỳ.

Ngành Dệt may: Tháng 5 năm 2015, sản lượng vải dệt từ sợi tự nhiên ước đạt 26,8 triệu m2, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo ước đạt 66,3 triệu m2, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước; quần áo mặc thường ước đạt 261,3 triệu cái, tăng 9% so với cùng kỳ.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2015, vải dệt từ sợi tự nhiên ước đạt 118,2 triệu m2, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2014; sản xuất vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo ước đạt 287,1 triệu m2, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước; quần áo mặc thường ước đạt 1.212,2 triệu cái, tăng 2,3% so với cùng kỳ.

Kim ngạch xuất khẩu ngành Dệt may tháng 5 ước đạt 1,65 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 8,11 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ.

Ngành Bia, rượu, nước giải khát: Tháng 5 năm 2015, sản lượng bia các loại ước đạt 287,8 triệu lít, tăng 3,8% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng bia các loại của Tổng công ty cổ phần Rượu – Bia – Nước giải khát Hà Nội ước đạt 82,8 triệu lít, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước; Tổng công ty cổ phần Rượu – Bia – Nước giải khát Sài Gòn ước đạt 117,8 triệu lít, tăng 3,2% so với cùng kỳ.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2015, sản lượng bia các loại ước đạt 1.218,2 triệu lít, tăng 5,4% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng bia các loại của Tổng công ty cổ phần Rượu – Bia – Nước giải khát Hà Nội ước đạt 225,5 triệu lít, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước; Tổng công ty cổ phần Rượu - Bia - Nước giải khát Sài Gòn ước đạt 576 triệu lít, tăng 3,9% so với cùng kỳ.

Bước vào mùa hè, các nhà máy bia tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường. Sang tháng 5, tình hình sản xuất của ngành Rượu - Bia - Nước giải khát có dấu hiệu tăng do đã là mùa nắng nóng.

Ngành giấy: Ước giấy các loại sản xuất tháng 5 năm 2015 (Tổng công ty Giấy Việt Nam) đạt 11.500 tấn, 5 tháng đầu năm ước đạt 48.100 tấn. So với cùng kỳ năm 2014 ước tháng 5 tăng 15,1%, tính chung 5 tháng tăng 3,6%. Sản xuất giấy in báo nội địa vẫn thấp hơn giấy in báo nhập khẩu do dư thừa giấy in báo trong khu vực.

Kim ngạch xuất khẩu tăng 7,3% so với cùng kỳ

Tháng 5, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 13,5 tỷ USD, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 9% so với cùng kỳ năm 2014.

Tính chung 5 tháng năm 2015, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 63,2 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của khu vực 100% vốn trong nước ước đạt 18,83 tỷ USD, giảm 2,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 44,37 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ. Nếu không kể dầu thô, kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 42,83 tỷ USD, tăng 18,1%.

 

Về kim ngạch xuất khẩu theo nhóm hàng:

Nhóm hàng nông sản, thủy sản: Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản, thủy sản tháng 5 ước đạt 1,8 tỷ USD, tăng 0,3% so với tháng trước và giảm 7,7% so với cùng kỳ năm 2014. Tính chung 5 tháng năm 2015, ước đạt 8,14 tỷ USD, giảm 9,5% so với cùng kỳ.

Tính chung 5 tháng năm 2015, các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh so với cùng kỳ là sắn và các sản phẩm từ sắn ước tăng 47,5%, nhân điều tăng 25,6%, rau quả tăng 17,8%. Các mặt hàng có kim ngạch giảm so với cùng kỳ là thủy sản ước đạt 2,44 tỷ USD, giảm 16,1%; cà phê ước đạt 1,2 tỷ USD, giảm 38,2%; gạo ước đạt 1,1 tỷ USD, giảm 10,7% và cao su ước đạt 464 triệu USD, giảm 5,2%.

Lượng xuất khẩu giảm là nguyên nhân chính làm giảm kim ngạch cả nhóm (trừ thủy sản, rau quả do không thống kê lượng). Tính chung 5 tháng đầu năm, lượng xuất khẩu giảm làm giảm kim ngạch xuất khẩu cả nhóm 516 triệu USD.

Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản: Tháng 5, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước đạt 348 triệu USD, giảm 23,2% so với tháng trước và giảm 71% so với cùng kỳ năm 2014. Kim ngạch xuất khẩu 5 tháng ước đạt gần 2 tỷ USD, giảm 53%.

Quặng và khoáng sản khác là mặt hàng duy nhất trong nhóm có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ (tăng 21%) do giá xuất khẩu tăng 55,1% đã bù đắp lại mức giảm 22% về lượng xuất khẩu.

Giá xuất khẩu giảm mạnh là nguyên nhân chính kéo kim ngạch xuất khẩu xăng dầu và dầu thô giảm, trong khi đó kim ngạch xuất khẩu than đá giảm do lượng xuất khẩu giảm 77,2% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm, lượng xuất khẩu giảm làm giảm kim ngạch xuất khẩu cả nhóm 581 triệu USD, trong khi giá xuất khẩu giảm làm giảm kim ngạch cả nhóm 1,67 tỷ USD.

Nhóm hàng công nghiệp chế biến: Tháng 5, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 10,41 tỷ USD, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 22,5% so với cùng kỳ năm 2014. Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu nhóm này ước đạt 49,27 tỷ USD, tăng 16,5% so với cùng kỳ.

Tháng 5, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 14,4 tỷ USD, tăng 9,1% so với tháng trước và tăng 13% so với cùng kỳ năm 2014.

Tính chung 5 tháng năm 2015, kim ngạch nhập khẩu ước khoảng 66,17 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực 100% vốn trong nước ước đạt 26,5 tỷ USD, tăng 6,3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 39,68 tỷ USD, tăng 23,2%.

Nhóm hàng cần nhập khẩu: Tháng 5, kim ngạch nhập khẩu ước khoảng 12,73 tỷ USD, tăng 8,8% so với tháng trước và tăng 12,3% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu 5 tháng đầu năm ước khoảng 58,38 tỷ USD, chiếm 88,2% tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng 15,4% so với cùng kỳ.

CPI tăng 0,95% so với cùng kỳ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội tháng 5 ước đạt 260,5 nghìn tỷ đồng tăng 2,48% so với tháng trước; tính chung 5 tháng đầu năm tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ ước đạt 1.304,45 nghìn tỷ đồng tăng 9,05% so với cùng kỳ, trong đó: ngành thương nghiệp ước đạt 996,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 76,42%; ngành khách sạn nhà hàng đạt 145,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2%, chiếm tỷ trọng 11,17%; du lịch ước đạt 10,59 nghìn tỷ đồng, giảm 11,77%, chiếm tỷ trọng 0,81% dịch vụ đạt 151,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9%, chiếm tỷ trọng 11,59%.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5 năm 2015 tăng 0,16% so với tháng trước; tăng 0,95% so cùng kỳ năm trước; tăng 0,2% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân năm tháng đầu năm 2015 so với cùng kỳ năm trước tăng 0,83%.

TAGS: