Kỳ vọng mới cho ngành công nghiệp Việt Nam

Kỳ vọng mới cho ngành công nghiệp Việt Nam

Admin
19, Tháng Giêng, 2017

Thủ tướng Chính phủ vừa ký quyết định phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, với định hướng tập trung phát triển các ngành hàng theo chiều sâu, gắn với xuất khẩu, hoàn thiện ngành công nghiệp hỗ trợ… Quy hoạch đã tiếp tục mở ra cánh cửa mới cho ngành công nghiệp Việt Nam tiến tới mục tiêu phát triển toàn diện, bền vững.

Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp, Bộ Công Thương: Ngành  công nghiệp Việt Nam 10 năm qua đã có bước phát triển ấn tượng, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt tới 15,09% mỗi năm. Đặc biệt, ngành còn nhiều cơ hội phát triển hơn nữa khi làn sóng đầu tư nước ngoài, nhất là từ Nhật Bản, Hàn Quốc đang mạnh mẽ đổ vào Việt Nam. Các FTA giữa Việt Nam, ASEAN và đối tác (TPP, Việt Nam-EU, ASEAN+6…) cũng mở ra cơ hội chinh phục thị trường rộng lớn.

Sẽ có 10 ngành được tập trung quy hoạch

Đó là cơ khí - luyện kim; hóa chất; điện tử, công nghệ thông tin; dệt may - da giày; chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống; sản xuất vật liệu xây dựng; khai thác và chế biến khoáng sản; điện; than; dầu khí.

Cụ thể, ngành điện tử, công nghệ thông tin sẽ tiếp tục phát triển phương thức lắp ráp các thiết bị điện tử, tin học để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Tăng cường liên kết với các tập đoàn điện tử, tin học lớn trên thế giới để tiếp nhận công nghệ hiện đại và tăng năng lực sản xuất. Phấn đấu đến năm 2020 đạt mức tăng trưởng bình quân 17-18% giá trị sản xuất công nghiệp, đến năm 2030 đạt 19-21%. Nỗ lực đến năm 2020 tỷ trọng ngành điện tử, công nghệ thông tin chiếm 9 - 10% trong cơ cấu ngành công nghiệp và đáp ứng 65-70% nhu cầu thị trường, năm 2030 chiếm tỷ trọng 12-13% và đáp ứng 75-80% nhu cầu.

Ngành dệt may, da giày sẽ phát triển theo hướng chuyên môn hóa, lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của ngành và đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường nội địa. Tập trung phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm trong ngành. Đến năm 2020, ngành phấn đấu đạt 10-12% tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất, đến năm 2030 đạt 8-9%. Ngành cũng nỗ lực đến năm 2020 tự chủ khoảng 40% nhu cầu vải dệt thoi; từ 40-100% phụ tùng cơ khí dệt may; 80% nhu cầu nội địa về các sản phẩm xơ, sợi tổng hợp và tiến tới xuất khẩu nguyên phụ liệu từ sau năm 2020.

Ngành chế biến nông lâm thủy sản, thực phẩm, đồ uống sẽ từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh để chủ động hội nhập với khu vực và thế giới. Chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu trên các thị trường trong nước và xuất khẩu. Tập trung phát triển vùng nguyên liệu quy mô lớn phục vụ cho chế biến, trên cơ sở áp dụng rộng rãi các loại giống mới có năng suất và chất lượng cao, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong gieo trồng và bảo quản, chế biến sau thu hoạch.

Ngành than thì phát triển trên cơ sở khai thác, chế biến, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên than của đất nước, nhằm phục vụ nhu cầu trong nước là chủ yếu. Bảo đảm việc xuất, nhập khẩu hợp lý, chỉ xuất khẩu các chủng loại than trong nước chưa có nhu cầu sử dụng. Ngành điện phát triển trên cơ sở sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng sơ cấp của mỗi miền. Đảm bảo cung cấp đầy đủ, liên tục, an toàn theo nhu cầu, từng bước hình thành, phát triển thị trường điện cạnh tranh, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh điện…

Phân bố không gian phát triển theo tiềm năng vùng

Theo đó, vùng Trung du miền núi phía Bắc sẽ tập trung phát triển các ngành khai thác và chế biến khoáng sản, chế biến nông, lâm sản, công nghiệp thủy điện, một số dự án luyện kim. Vùng Đồng bằng sông Hồng phát triển các ngành công nghiệp cơ khí, luyện kim, hóa chất, nhiệt điện, công nghiệp công nghệ cao. Vùng Duyên hải miền Trung phát triển các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến hải sản, cơ khí đóng tàu, luyện kim và các ngành công nghiệp gắn với lợi thế vận tải biển.

Vùng Tây Nguyên thì tập trung phát triển công nghiệp chế biến cây công nghiệp, khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng. Vùng Đông Nam bộ thì phát triển các ngành công nghiệp cơ khí, dầu khí và các chế phẩm hóa dầu, hóa chất, công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ cao. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long tập trung phát triển các ngành chế biến nông sản, thủy hải sản xuất khẩu, công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp, đóng và sửa chữa các loại phương tiện đánh bắt xa bờ./.

Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 đề ra mục tiêu đến năm 2020 đạt 12,5-13,0%/năm tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp, giai đoạn 2021-2030 đạt 11,0-12%/năm. Phấn đấu đến năm 2020 tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP chiếm 42-43% và năm 2030 chiếm 43-45%. Đến năm 2020 tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 85-90% giá trị sản xuất công nghiệp; đến năm 2030 đạt từ 90-92%...

TAGS: